Người Không Được Hưởng Di Sản Thừa Kế Là Ai

Không phải người có quan hệ gia đình với người đã chết đều đương nhiên được nhận di sản thừa kế. Trong một số trường hợp, pháp luật loại trừ quyền hưởng di sản. Vậy người không được hưởng di sản thừa kế là ai? Trường hợp nào bị pháp luật tước quyền hưởng di sản và liệu người có hành vi thuộc diện này có trường hợp ngoại lệ hay không? Công ty Luật TVA phân tích cụ thể quy định pháp luật để giúp xác định đúng quyền hưởng di sản trong từng trường hợp.

Người Không Được Hưởng Di Sản Thừa Kế Là Ai

Người không được hưởng di sản thừa kế là ai?

Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người không được quyền hưởng di sản là người thuộc một trong những trường hợp mà pháp luật xác định không có quyền nhận phần di sản của người chết để lại.

Điểm cần lưu ý là quy định này không đồng nghĩa với việc cứ không nhận được di sản thì đều là “người không được quyền hưởng di sản”. Trên thực tế, một người có thể không được nhận di sản vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn không thuộc hàng thừa kế, người được chỉ định trong di chúc nhưng di chúc không có hiệu lực đối với họ, hoặc tự nguyện từ chối nhận di sản.

Riêng trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, nguyên nhân xuất phát từ những hành vi nhất định của chính người thừa kế và pháp luật đặt ra cơ chế loại trừ quyền hưởng di sản đối với họ.

Những ai không được quyền hưởng di sản theo pháp luật?

Những ai không được quyền hưởng di sản theo pháp luật?

Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bốn nhóm trường hợp không được quyền hưởng di sản. Các trường hợp này cần được xem xét cụ thể, bởi không phải mọi hành vi vi phạm trong quan hệ gia đình đều dẫn đến mất quyền thừa kế.

Người xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản

Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo điểm a khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015.

Quy định này hướng đến những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đối với chính người để lại di sản. Đối với trường hợp “bị kết án”, cần có bản án hoặc quyết định có hiệu lực theo quy định pháp luật làm căn cứ xác định hành vi thuộc trường hợp luật định.

Đồng thời, không phải mọi mâu thuẫn, tranh chấp hoặc bất đồng giữa các thành viên trong gia đình đều có thể được xem là căn cứ tước quyền hưởng di sản. Việc xác định có thuộc điểm a khoản 1 Điều 621 hay không phải dựa trên hành vi cụ thể và căn cứ pháp lý tương ứng.

Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản

Điểm b khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản thì không được quyền hưởng di sản.

Trường hợp này thường cần xem xét trong mối quan hệ mà pháp luật có quy định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa các thành viên gia đình. Việc một người không chăm sóc người thân trong một khoảng thời gian nhất định chưa thể tự động kết luận rằng họ đã “vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng”.

Khi phát sinh tranh chấp, cần xác định người đó có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo pháp luật hay không, mức độ vi phạm như thế nào và có đủ căn cứ chứng minh hành vi vi phạm nghiêm trọng hay không.

Người cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác để hưởng di sản

Theo điểm c khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng thì không được quyền hưởng di sản.

Đây là trường hợp pháp luật loại trừ quyền hưởng di sản vì người thừa kế đã thực hiện hành vi nhằm loại bỏ người có quyền hưởng di sản khác để làm tăng phần tài sản mà mình có thể nhận.

Điểm quan trọng là hành vi phải gắn với mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có quyền hưởng. Vì vậy, khi áp dụng quy định này cần xem xét đầy đủ bản án, hành vi và mục đích của người thực hiện, thay vì chỉ căn cứ vào việc giữa những người thừa kế có xảy ra mâu thuẫn.

Người lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di chúc hoặc can thiệp trái pháp luật vào di chúc

Theo điểm d khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo, sửa chữa, hủy hoặc che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì không được quyền hưởng di sản.

Nhóm hành vi này có điểm chung là tác động trái pháp luật vào việc hình thành hoặc thực hiện ý chí của người để lại di sản. 

Người thuộc trường hợp không được hưởng di sản có được hưởng trong trường hợp nào không?

Có. Đây là một ngoại lệ quan trọng được quy định ngay tại khoản 2 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015.

Theo đó, những người thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 621 vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Quy định này thể hiện sự tôn trọng ý chí của người để lại di sản. Nói cách khác, nếu người lập di chúc biết rõ hành vi của một người thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 621 nhưng vẫn lập di chúc cho người đó hưởng một phần di sản thì không thể chỉ dựa vào hành vi trước đó để mặc nhiên kết luận người này không được hưởng.

Tuy nhiên, để áp dụng ngoại lệ này, cần chứng minh được hai yếu tố: người để lại di sản đã biết về hành vi thuộc trường hợp Điều 621 và họ vẫn thể hiện ý chí cho người đó hưởng di sản thông qua di chúc.

Câu hỏi thường gặp về người không được hưởng di sản thừa kế

Người con không chăm sóc cha mẹ có chắc chắn bị mất quyền thừa kế không?

Không. Chỉ khi có căn cứ xác định người đó vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng theo điểm b khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì mới thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản. Việc không chăm sóc trong một khoảng thời gian nhất định không tự động dẫn đến mất quyền thừa kế.

Người giấu di chúc có được hưởng di sản không?

Có thể không. Nếu người đó che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 621. Tuy nhiên, nếu người để lại di sản biết hành vi này nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì khoản 2 Điều 621 có thể được áp dụng.

Người từ chối nhận di sản có phải là người không được hưởng di sản không?

Không. Từ chối nhận di sản là việc người có quyền hưởng chủ động không nhận di sản theo Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là trường hợp khác với việc bị pháp luật loại trừ quyền hưởng di sản theo Điều 621.

Người bị kết án có phải đều mất quyền hưởng di sản không?

Không. Điều 621 chỉ loại trừ quyền hưởng di sản đối với những hành vi thuộc đúng các trường hợp được điều luật quy định. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào việc một người từng bị kết án mà kết luận họ không có quyền hưởng di sản.

Hy vọng qua bài viết, Công ty Luật TVA đã giúp quý khách hàng hiểu rõ hơn về vấn đề “Người Không Được Hưởng Di Sản Thừa Kế Là Ai?”. Đừng ngần ngại hãy liên hệ với Công ty Luật TVA nếu quý khách hàng có bất kỳ thắc mắc gì cần tư vấn giải quyết.

Bài viết liên quan

Không có tên trong di chúc có được chia tài sản không?

Khi một người qua đời và để lại di chúc, không phải ai không có...

Xem chi tiết
Người Không Được Hưởng Di Sản Thừa Kế Là Ai

Không phải người có quan hệ gia đình với người đã chết đều đương nhiên...

Xem chi tiết
Những người được hưởng thừa kế không theo di chúc

Khi một người qua đời, không phải mọi trường hợp tài sản đều được phân...

Xem chi tiết
Thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế (Cập nhật mới nhất)

Khi người chết để lại di sản, không phải ai cũng muốn nhận di sản...

Xem chi tiết
Zalo