
- Quy định trước đây về quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Theo Luật Đất đai 2013, NVNĐCNN là một trong những đối tượng được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, được quy định tại Khoản 6 Điều 5: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch.”
Tuy nhiên, để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, NVNĐCNN phải đáp ứng thêm các điều kiện cụ thể về quốc tịch và điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Cụ thể:
- Theo Khoản 1 Điều 186 Luật Đất đai 2013, người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được nhận chuyển có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
- Theo Khoản 1 và điểm b Khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở 2014, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu được phép nhập cảnh và có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức như mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án được phép bán nền để tự xây dựng.
- Đồng thời, điểm đ Khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013 quy định NVNĐCNN thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở được nhận chuyển quyền sử dụng đất ở thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở hoặc được nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở và không bao gồm các loại đất khác như đất nông nghiệp, thương mại, dịch vụ,…
Như vậy, dưới thời Luật Đất đai 2013, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở và phải đáp ứng điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
- Quy định mới tại Luật Đất đai 2024 và Luật Nhà ở 2023
Bước sang giai đoạn mới, Luật Đất đai 2024 đã có nhiều điểm đổi mới quan trọng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Theo Khoản 3 Điều 4 Luật Đất đai 2024, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam được coi là người sử dụng đất và có các quyền, nghĩa vụ như cá nhân trong nước.
Điểm mới quan trọng là NVNĐCNN là công dân Việt Nam nay được xác định chung nhóm với “cá nhân trong nước” nghĩa là họ được thực hiện các quyền của người sử dụng đất tương tự công dân Việt Nam cư trú trong nước, trong đó bao gồm quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi đáp ứng điều kiện theo pháp luật.
Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này vẫn phải tuân thủ điều kiện, mục đích sử dụng đất, khu vực và loại đất theo quy định của pháp luật đất đai. Không phải mọi loại đất đều được tự do nhận chuyển quyền.
- Điều kiện cụ thể để người Việt Nam định cư ở nước ngoài được cấp Giấy chứng nhận
Để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cần đáp ứng các điều kiện sau:
- Là công dân Việt Nam đang định cư ở nước ngoài (theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, được hiểu là người Việt Nam mang quốc tịch Việt Nam và cư trú ở nước ngoài).
- Được phép nhập cảnh vào Việt Nam, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở 2023.
- Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản về quyền sử dụng đất phải tuân thủ quy định tại Luật Đất đai 2024 và pháp luật về công chứng, chứng thực.
- Không thuộc các trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận, được quy định tại Điều 151 Luật Đất đai 2024
Từ ngày 01/01/2025, khi Luật Đất đai 2024 chính thức có hiệu lực, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam sẽ được mở rộng đáng kể quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Cụ thể, họ được xem như cá nhân trong nước trong việc sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất với điều kiện tuân thủ các quy định chung của pháp luật về đất đai, nhà ở và quốc tịch. Đây là một bước tiến quan trọng, thể hiện chính sách nhất quán của Nhà nước trong việc tạo điều kiện cho kiều bào trong lĩnh vực đất đai.
